Trang chủ PC/Console Lịch sử dòng game bắn súng góc nhìn thứ nhất (Phần 4)

Lịch sử dòng game bắn súng góc nhìn thứ nhất (Phần 4)

Một thiên niên kỷ mới: Unreal, Counter-Strike, Battlefield và Call of Duty

Một trong những thế lực tác động mạnh nhất đến dòng game FPS lại không phải đến từ game mà là từ một bộ phim: Giải cứu binh nhì Ryan (Saving Private Ryan) của đạo diễn Steven Spielberg, diễn ra trong thế chiến thứ 2 (hay lắm anh em xem thử đi). Bộ phim mô tả ngày cập bến D-Day, sau đó ảnh hưởng đến những tựa game ở thập kỷ sau như Killzone và Titanfall. Bản thân Spielberg cũng có một mối liên hệ với nghề phát triển game: ông đồng sáng lập DreamWorks Interactive (DWI) với Microsoft vào năm 1995 để làm ra những bộ phim như Small Soldiers. Sau khi hoàn thành tác phẩm Saving Private Ryan, Spielberg muốn tìm cách để dạy những người trẻ tuổi thêm về chiến tranh đã yêu cầu DWI phát triển tựa game FPS Medal of Honor cho nền tảng PlayStation của Sony.

Ra mắt vào năm 1999 với con số bán ra cực kỳ lớn, Medal of Honor là nguồn khởi đầu cho rất nhiều thứ. Một mặt, game không đi theo lối mòn khoa học giả tưởng hay những cuốn truyện giấy như Doom hay Wolfenstein. Ở mặc khác, game tạo điều kiện cho các nhà phát triển game có quyền sử dụng các sự kiện có thật, và một phần giảm thiểu đi tư tưởng game bạo lực dẫn đến hành vi bạo lực. Medal of Honor ra mắt vài tháng sau sự kiện thảm sát Columbine tại Colorado, một vụ bạo lực khiến mọi người lo lắng về ảnh hưởng của game bạo lực. Sợ bị chỉ trích, DreamWorks Interactive loại bỏ những thứ máu me ra khỏi game trước khi phát hành. Game cũng thu hút phản ứng đến từ Hiệp hội huân chương danh dự Hoa Kỳ, và người đứng đầu hiệp hội từng nói trực tiếp với Spielberg về những lo ngại của mình. Mặc cho những gièm pha, sự ra mắt của tựa game này đã tạo ra tiền lệ cho những studio sau sử dụng các sự kiện lịch sử cũng như trong xã hội.

Vào kết thúc của thập kỉ 90 là sự ra đời của Unreal, châm ngòi sự đối đầu giữa người tạo ra nó là Epic MegaGames (công ty ra mắt tựa game Fortnite) và id Software. Game đưa bạn trải nghiệm lần đầu leo lên thảm bay (như trong Aladdin) bay bổng qua các hang động chưa đầy robots. Unreal sau đó nhanh chóng nhấn chìm tựa game Quake, nhờ công nghệ xử lý ảnh màu 16-bit và những hiệu ứng xung quanh, như là sương mù dày đặc. Giống như Quake, game được thiết kế để có thể mod dễ dàng và cũng thiếu chế độ chơi multiplayer khi lúc đầu ra mắt. Epic sau đó tung ra bản mở rộng riêng lẻ, Unreal Tournament vào năm 1999, cho phép tham gia chế độ deathmatch (bắn tự do). Game ra mắt trước khi Quake III: Arena của id được tung ra. Ngoài nhiều chế độ bắn khác nhau, game có cả chế độ dành cho dân ‘hardcore’ thi đấu và thêm những map ‘giải trí’ như là bay lượn vòng quan trái đất. Thương hiệu Unreal đã tìm được cho mình chỗ đứng ở thị trường online, nhưng thứ làm nên thành công của Epic lại là công nghệ Unreal của nhà sáng lập Tim Sweeney, một công nghệ đồ họa được thiết kế để cải tiến liên tục.

Trong khi Quake và Unreal Tournament chuyên về sự tưởng tượng hư vô thì cùng năm đó, Counter-Strike ra đời. Một phiên bản mod lại của Half Life được tạo ra bởi hai nhà làm game nghiệp dư Minh Le và Jess Cliffe: cuộc đụng độ giữa khủng bố và cảnh sát, hai phe cố gắng gài bom hoặc gỡ bom, giải cứu cũng như bảo vệ con tin, có thể mua súng bằng số tiền mình tích lũy được ở cuối mỗi round. Phiên bản mod này lúc đầu không nổi bật lắm, nhưng các nhà làm game của Valve đã nhận ra tiềm năng của game và đã đưa Le cùng Cliffe về để lấy được quyền sở hữu trí tuệ của game vào năm 2000. Counter-Strike trở thành một hiện tượng, với hàng nghìn map được tạo ra bởi người chơi (bao gồm 2 map huyền thoại Trung Đông của David Johnston là Dust và Dust 2) và một cộng đồng fan cực kỳ lớn. Các yếu tố có trong game này như những chế độ chơi xoay quanh các mục tiêu lớn, thiết kế dựa trên sự chiến thuật chính là một phần trong gen của các trò chơi chuyên nghiệp.

Năm 2000 cũng là thời điểm Microsoft mua lại Bungie, tước mất một trong những tựa game hiếm hoi trên hệ điều hành Mac của Apple, đó là dòng game khoa học viễn tưởng Halo. Game khởi đầu cho thể loại phiêu lưu thế giới mở, chạy bằng công nghệ Myth của Bungie. Halo: Combat Evolved với sự quy mô trong game trở thành một cú hit khi máy Xbox của Microsoft ra mắt vào năm 2001. Môi trường trong Halo sáng sủa, bao la và đầy màu sắc, trong khi những game bắn súng khi đó lại khá dơ bẩn và nhìn uể oải. Hệ thống vũ khí giữ lại những tinh hoa của Quake và Unreal – súng lục có khả năng dồn nén sức mạnh để phá vỡ khiên của địch là một chiến thuật được ưa dùng trong game – nhưng Halo cũng chỉ cho mỗi nhân vật một thanh máu có giới hạn cũng như khả năng hồi lại khiên giúp cho trận đấu trở nên nhịp nhàng, mang tính chiến thuật hơn. Halo cũng chứng minh được tiềm năng của Bungie trong việc tạo dựng một thế giới ảo: chính vũ trụ rộng lớn tuyệt trong Halo đã giúp tạo dựng vị thế cho dòng game FPS.

Halo sau đã bị áng bóng bởi một game bắn súng Thế Chiến thứ 2 khác, sử dụng công nghệ Quake III của id Software bởi Infinity Ward – một studio sáng lập bởi những cựu thành viên của game Medal of Honor: Allied Assault và được Activision rót vốn đầu tư. Ra mắt vào 2003, Call of Duty là một trong những game FPS đầu tiên cho phép người chơi dùng tâm nhắm – một canh bạc mạo hiểm khi nó tạo ra sự sợ hãi do không gian hẹp lại, làm bạn bớt chú ý tới mọi thứ xung quanh trừ cây súng đang cầm trên tay, dù số lượng nhân vật AI trong game ngang ngửa với game Allied Assault. Nó vẫn chưa vượt qua được cái bóng của Medal of Honoc trên PC, nhưng sự phổ biến của Call of Duty đã thu hút sự chú ý của Microsoft, và họ đã yêu cầu Activision phát triển phiên bản tiếp theo cho hệ máy Xbox 360. Trong khi Halo 3 vẫn chưa ra mắt, Call Of Duty là game bán chạy nhất trên Xbox 360 vào năm 2005. Lo ngại khi phải lệ thuộc quá nhiều vào một nhà phát triển, Activision mua lại studio game Treyarch (nổi tiếng với game Spider-Man) để thiết kế Call of Duty 3 bằng công nghệ của phần 2, trong khi đó Infinity Ward có thêm 1 năm để chuẩn bị cho phiên bản kế tiếp. Với sự xuất hiện thường niên của tựa game này sau đó, cùng với chế độ nhiều người chơi cuốn hút, Call of Duty nhấn chìm mọi đối thủ và vươn rộng sức ảnh hưởng của mình trong thể loại FPS.

Một trong những đối thủ sừng sỏ đối chọi studio Infinity Ward là hãng phát triển game đến từ Thụy Điển DICE. Battlefield: 1942 có thể kết nối đến 64 người chơi trên một map cực kỳ rộng lớn với chế độ cướp cờ. Trong khi chế độ multiplayer của Call of Duty tập trung vào hành động riêng lẻ cá nhân, Battefield tập trung vào sự đoàn kết của cả một đội, sử dụng các tài nguyên chiến thuật như xe cộ, và hơn cả là những mô phỏng thực tế rất chân thật. Công nghệ Refractor của Battlefield cho phép áp dụng các vật lý ngoài đời thật như sử dụng thuốc nổ TNT để thổi xe Jeep từ cảng bay lên đến tận boong tàu sân bay. Mặc dù không trở thành xu hướng trong thị trường game, chủ yếu là do phần chơi đơn chưa đủ hấp dẫn, Battlefield vẫn thu hút người chơi nhờ sự tự do có được trong game.

Far Cry của Crytek thì khởi đầu như một bản demo công nghệ, với tên lúc đầu là X-Isle: Dinosaur Island. Họ sau đó được hỗ trợ bởi Ubisoft để tạo ra game FPS thế giới mở đầu tiên. Trong khi những game bắn súng khác bảo người chơi phải tiến về phía trước, thì Far Cry cho phép bạn thám hiểm các khu rừng nhiệt đới bao la, sử dụng bụi rậm để lùm núp trong khi theo dõi những tên lính gác thông qua ốm nhòm của mình. Tựa series này sau đó là tiền đề để Ubisoft tạo ra các game góc nhìn thứ 3 mang tên Assassin’s Creed, mỗi phiên bản là một kiến trúc hoàn hoàn khác trong thế giới mở rộng lớn.

BÌNH LUẬN

Bình lậun
Nhập tên của bạn

Tin hot trong tuần

Tin xem nhiều nhất