28 C
Ho Chi Minh City
Thứ Tư, 27 Tháng Mười, 2021
Trang chủPC/ConsoleLịch sử phát triển của hệ máy Nintendo phần 2

Lịch sử phát triển của hệ máy Nintendo phần 2

  • 64DD
  • GameCube
  • Panasonic Q
  • Wii
  • Wii Mini
  • Wii U
  • Switch

Tại Nhật Bản, Nintendo đã phát hành phần bổ sung 64DD cho Nintendo 64 vào năm 1999. “DD” viết tắt cho “Dynamic Drive” (động lực) và nhằm biến chiếc console thành một máy đa phương tiện với khả năng kết nối Internet thông qua dịch vụ Randnet. Tuy nhiên, sau khi doanh thu sản phẩm giảm, 64DD đã bị ngừng sản xuất vào năm 2001.

Lịch sử phát triển của hệ máy Nintendo

Nintendo ra mắt GameCube tại Nhật Bản vào ngày 14 tháng 9 năm 2001. Tại Bắc Mỹ, nó được phát hành ba ngày sau chiếc Xbox (ngày 18 tháng 11 năm 2001). Chiếc console thế hệ thứ 6 này là sự cạnh tranh khó khăn nhất trên thị trường của Nintendo. Không chỉ chiếc PlayStation 2 được yêu thích của Sony đã làm giảm doanh thu của GameCube, mà nó cũng bị vượt bởi chiếc máy chơi game đầu tiên của Microsoft. Tổng cộng, GameCube đã bán được 21.7 triệu bản.

Mặc dù có cái tên Cube (khối hộp), nhưng hệ thống này không thực sự là một khối lập phương, với kích thước không đều 5,9×6,3×4,3 inch. Mặc dù Nintendo sau này đã phát hành một số phiên bản với màu sắc khác nhau, nhưng GameCube ban đầu chỉ ra mắt với hai màu: đen và chàm đậm – trong đó màu chàm mang lại cảm giác giống một món đồ chơi. Về thẩm mỹ, chiếc tay cầm tích hợp sẵn của nó cũng tạo nên vẻ trẻ trung.

Bên trong khung máy, hệ thống sử dụng bộ xử lý PowerPC Gekko của IBM với tốc độ 486MHz. Nó có khả năng cung cấp sức mạnh 1,9 GFLOPS.  Nintendo đã sử dụng hệ thống dựa trên cấu trúc RISC đơn giản, với hy vọng giành lại các nhà phát triển bên thứ ba mà họ đã mất khi phát hành hệ máy N64. Hệ thống cũng có 43MB bộ nhớ RAM và sử dụng chip đồ hoạ ATI Flipper với tốc độ 162MHz. Với nó, GameCube đã có thể hiển thị độ phân giải 640x480p. GameCube không có ổ cứng bên trong, giống như đối thủ Xbox của Microsoft, mà thay vào đó là sử dụng thẻ nhớ.

Mặc dù hệ thống này là chiếc máy chơi game đầu tiên của Nintendo sử dụng đĩa quang mà không cần một thiết bị bổ sung, chúng chỉ là một tính năng độc quyền nhỏ được thực hiện với sự hợp tác của Panasonic. Các đĩa game (Game Dics) này có dung lượng lên đến 1,5 GB, bị đánh bại bởi đĩa DVD với dung lượng lên tới 8,5GB. Các mối quan ngại về vi phạm bản quyền tiếp tục là một trong những lý do chính cho khuôn thức sở hữu riêng. Mặc dù dung lượng lưu trữ tương đối ít nhưng không phải là vấn đề đối với nhiều nhà phát triển, nhiều cổng đa nền tảng phải được nén lại hoặc bỏ đi các tính năng mới có thể vừa với Game Discs.

Nintendo đã sử dụng thiết kế bộ điều khiển 2 tay cầm với GameCube. Nó bao gồm nút nhấn hình hạt đậu độc đáo cùng với một nút Z gần nút vai phải. Chiếc tay cầm cũng bao gồm phản hồi xung lực mà không cần một một thiết bị bổ sung. Năm 2002, Nintendo phát hành WaveBird, chiếc tay cầm không dây sử dụng sóng radio.

Cạnh tranh với: Sega Dreamcast, Sony PlayStation 2, Microsoft Xbox

Trò chơi nổi bật: Super Mario Sunshine, Super Smash Bros. Melee, The Legend of Zelda: The Wind Waker, Metroid Prime, Pikmin, Eternal Darkness, Resident Evil 4, Paper Mario: The Thousand-Year Door

Lịch sử phát triển của hệ máy Nintendo

 

Bạn có thể đọc thêm bài viết khác tại đây:

Subscribe
Thông báo của
guest
0 Bình luận
Phản hồi trong bài
Xem tất cả bình luận

Tin hot trong tuần

Tin xem nhiều nhất

0
Hãy chia sẻ cảm nghĩ của bạn bằng cách bình luậnx
()
x