27 C
Ho Chi Minh City
Thứ Tư, 25 Tháng Năm, 2022
Trang chủCông NghệReview AMD Ryzen Threadripper 1950X và 1920X

Review AMD Ryzen Threadripper 1950X và 1920X

AMD ra mắt dòng CPU nhanh nhất thế giới dành cho người tiêu dùng, ngoài mục đích chơi game.

AMD liên tục gây nổi bật trong năm nay, ít nhất là trong lĩnh vực CPU, và những thông tin tích cực từ những nhà lãnh đạo của AMD rất cuốn hút. Ryzen vẫn chưa phải là dòng CPU nhanh nhất thế giới, nhưng với cái giá khá dễ chịu, thật khó mà có thể đánh bại. Từ phân khúc thấp Ryzen 3 đến tầm trung Ryzen 5, và tầm cao Ryzen 7, có rất nhiều lí do để mua AMD CPU khi so về giá tiền với đối thủ Intel. Nhưng điều này không áp dụng dành cho phân khúc cao cấp – nơi mà Intel i9-7900X và i7-6950X đang thống trị, đắt tiền nhưng là những vị vua đúng nghĩa. Tuy vậy, điều này đã thay đổi vào ngày 10 tháng 8 năm nay.

Threadripper vẫn được giữ bí mật trong nhiều tháng trước, nhưng có vẻ như là Intel không thật sự xem AMD có thể cạnh tranh với họ trong các sản phẩm 16 nhân dành cho phân khúc hạng nặng. Core i9-7900X đã được phát hành, và điều tương tự với i9-7920X cũng sắp xảy ra, nhưng nếu Intel muốn, cả hai CPU này sẽ có giá cao ngất ngưỡng. Nhìn vào năm 2015, Broadwell-E được ra mắt khi mà dòng CPU mới này có cùng số nhân nhưng giá lại cao hơn hẳn Haswell-E, và giá i7-6950X nhảy vọt với phiên bản Extreme Edition từ $1,000 lên $1,723. Nhưng với mối đe dọa từ dòng sản phẩm 16-nhân từ AMD, Intel cần một sảnm phẩm gì đó mạnh mẽ hơn… ít nhất là phải chờ thêm một tháng trước khi chúng ta có thể thấy i9-7970XE 18 nhân, và có thể là bảng giá $2,000.

AMD đã đạt được sự triển khai nhanh chóng này với những CPU ở tầng khúc cao cấp bằng cách ‘thay đổi’ hệ thống CPU, Epyc. (Điều này nghe có vẻ thân thuộc đối với các fan của Intel, khi tất cả các dòng X79, X99, và bây giờ là X299; những dân ‘vọc’ đã thay đổi các phiên bản Intel’s Xeon workstation chip bằng cách tương tự.) Trong khi Epyc nổi bật với các bộ phận 32-nhân/64-luồng, hoàn thiện với 128 PCIe lane, 8 cổng bộ nhớ RAM và hỗ trợ 2 CPU cùng lúc; còn AMD thì vô hiệu hóa một nửa Epyc và sửa đổi bề mặt của socket (chỗ cắm CPU vào Motherboard) để giảm một nửa lượng nhân, luồng, PCIe lane, cổng memory RAM. Chào mừng đến Threadripper và socket TR4.

Đây là ví dụ rõ nhất về khả năng mở rộng mới được khai phá của AMD, điều mà AMD tán dương nhờ vào công nghệ Infinity Fabric của họ. Intel có lẽ vẫn đang chế giễu Epyc và Threadripper rằng “là những con CPU thuộc dòng tiêu dùng được dán lại với nhau,” nhưng Intel đã làm điều tương tự trong quá khứ (vị dụ, Pentium D và Core 2 Quad). Từ ý tưởng thiết kể cơ bản đó, AMD đã ra mắt một bộ CPU hoàn thành từ cao cấp đến thấp chỉ trong vòng 6 tháng. Trong khi đó, Intel ra mắt Kaby Lake vào đầu năm nay, là phiên bản nâng cấp khiêm tốn từ công nghệ Skylake của năm 2015. Và gân đây hơn, Intel cho ra dòng Skylake-X và Kaby Lake-X cũng là phiên bản mài dũa lại từ công nghệ Skylake. Đó chỉ là một công nghệ duy nhất, được kéo dài đến hơn 2 năm – và nếu ta tính cả Coffee Lake và Cannonlake, thì chúng cũng sẽ sử dụng thiết kế đến từ Skylake.

Tất nhiên là khi trước, Intel không cần phải thay đổi triệt để cấu trúc CPU, bởi vì các dòng Haswell và ngay cả Ivy Bridge và Sandy Bridge (thế hệ thứ 4, 3 và 2 Gen core) cũng đã vượt trôi hơn hẳn các CPU tốt nhất của AMD. Skylage và Kaby Lake chỉ giúp tăng thêm khoảng cách giữa Core i3/i5/i7 và các dòng FX CPU già cỗi của AMD, trong khi APU (CPU tích hợp card đồ họa – onboard) của AMD đa số được sử dụng trong các thiết bị tiêu thụ điện năng thấp như laptops, hoặc là cho các PC hạng thấp. Nói một cách khác, AMD lúc đó cần phải làm việc rất nhiều mới bắt kịp Intel. Tin tốt là nhờ có công nghệ Zen, đây là bước nhảy vọt vượt bậc trong hiệu năng của CPU mà chúng ta thấy được từ AMD

Bài kiểm tra Threadripper bao gồm rất nhiều ánh đèn của RGB

Tuy nhiên, khoảng cách vẫn còn đó. Công nghệ Zen nhanh hơn khoảng 50%, IPC (Instruction Per Clock/Cycle – ), khi so sánh với công nghệ Piledriver được sử dụng trong CPU FX8350 (và những CPU tương tự). Điều này giúp Zen hơn hẳn Haswell/Broadwell của Intel nhưng tụt hậu một tí so với Skylake/Kaby Lake. Nhưng IPC chỉ là một phần của dãy thức, phần còn lại đó là số lượng nhân. AMD quảng cáo “nhiều nhân hơn với giá rẻ hơn” có từ thời CPU FX-8150 8 nhân, nhưng vấn đề là các nhân ở trong dòng Bulldozer (và sau đó là Piledriver) không thật sự có tiềm năng. Zen thì lại tốt hơn rất nhiều, bao gồm các CPU 8-nhân/16-luồng mà giá chỉ ngang tầm với các dòng Intel 4-nhân/8-luồng và Core i7 6-nhân/12-luồng, AMD về tổng lực thì mạnh hơn về hiệu năng.

Threadripper cũng dùng phương pháp tương tự và cạnh tranh với dòng X299 của Intel, cho đến hiện tại vẫn là đứng đầu là i9-7900X 10-nhân/20-luồng. Với cái giá tương đương $1,000, Ryzen Threadripper 1950X của AMD cho chúng ta đến 16-nhân/32-luồng – hơn 60% về số nhân/luồng, cân bằng hơn mặc dù clockspeed thấp hơn một tí. Xuống một bậc và tại gia $800, Threadripper 1920X có thiết kế 12-nhân/24-luồng để cạnh tranh với i7-7820X 8-nhân/16-luồng – mặc dù chip của Intel lại rẻ hơn $200 so với dòng 1920X. Intel thì chỉ hỗ trợ có 28 PCIe lane, so với 60 PCIe lane trên Threadripper, trong trường hợp bạn muốn lắp thêm một card đồ họa hay một vài phụ kiện cao cấp khác.

Và điều này đưa chúng ta đến vấn đề chính: cuộc chiến của hạng cân $1,000 giữa AMD và Intel. Trước khi đi vào benchmark, lưu ý là i9-7900X hay Threadripper 1950X không phải là CPU dành cho chơi game. Tất nhiên là cả hai có thể chạy game rất tốt, nhưng có một số game mà i7-7700k và có khi cả i5-7600k có thể đánh bại hai dòng này. Hãy nghĩ như thế này, một chiến sĩ nhanh và lẹ hạ gục một gã khổng lồ – một cú đấm có thể knockout đối thủ, nhưng để đấm trúng là là một chuyện khác. Thay vì dùng để chơi game, hai dòng CPU của AMD và Intel tập trung vào đa nhiệm – multitasking workloads, và những nhà làm đồ họa sẽ thấy sự hữu dụng khi CPU có thêm vài nhân – chơi game trong khi encode một video HEVC, hoặc làm việc trên một khung nền tiếp theo trong khi chờ khung nền hiện tại được xử lí (render).

Nếu bạn tự hỏi tại sao nhiều nhân hơn không thật sự giúp tăng hiệu năng khi chơi game – và có khi nó lại giảm hiệu năng – thì hãy quay lại cấu trúc thiết kế, đặc biệt là là L2/L3 cache và các chênh lệch bộ nhớ – memory latencies. Threadripper và Core i9 đều có nhiều cache và gấp đôi băng thông bộ nhớ – về mặt lý thuyết – so với phân khúc dành cho người tiêu dụng (tất cả các CPU dành cho socket AM4 và LGA 1151). Vấn đề là, để vào được bộ nhớ và cache thật sự có thể diễn ra lâu hơn. Nếu bạn đang chạy một ứng dụng có thể sử dụng tất cả 32-luồng, việc thâm hụt hiệu năng bộ nhớ một tí không phải vấn đề lớn.. Nhưng các game không nằm trong phân khúc này. Lấy ví dụ AMD, bộ điều khiển 4-thanh bộ nhớ của Threadripper trung bình có memory latency là 87ns (nanosecond), so với 72ns của Ryzen 7 – và có latency L3 cache cao hơn (và cũng chậm hơn L2 Latency khi thâm nhập dữ liệu ở các cache khác nhau trong nhân). Điều tương tự cũng xảy ra ở X299 của Intel. Cùng với clockspeeds thấp hơn (so với i7-7700k) và rất nhiều nhân chạy, việc chơi game thường sẽ kém hơn.

Vậy bạn vẫn muốn chơi game trên Threadripper nhưng lại không muốn để thua hiệu năng so với Ryzen 7 1800X? Amd có một giải pháp: Game Mode. Sử dụng phần mềm Master của AMD Ryzen, khi bật chế độ Game Mode, nó sẽ vô hiệu hóa nửa số nhân và buộc Windows vận hành ở chế độ NUMA (Non-Uniform Memory Access – thâm nhập bộ nhớ không đồng nhất). NUMA sẽ làm việc với OS (hệ điều hành) để dử dụng bộ nhớ gần với các nhân của CPU trước, RAM có latency thấp trong khi cả bốn thanh bộ nhớ vẫn được hoạt động, nhưng chỉ có công việc ở hai thanh đầu tiên (16GB trong bài kiểm tra này) mới được xếp vào bộ nhớ RAM ‘chậm hơn’. Có duy nhất một vấn đề với chế độ Game Mode: bạn phải khởi động lại máy để mở/tắt chế độ này, và bạn mất một nửa số lượng nhân trong CPU.

Chúng ta sẽ không thấy rất nhiều người mua Threadripper và sau đó bật chế độ Game Mode, và ngay cả AMD thừa nhận rằng tính năng này không thật sự cần thiết dành cho những người thật sự mua Threadripper ngoài mục địch chơi game. Tuy nhiên, chúng ta vẫn ‘test’ chế độ Game Mode trên dòng 1950X, để cho các bạn thấy nó ảnh hưởng như thế nào đến hiệu năng. Kết quả CPU khả năng sẽ giống với dòng 1800X, và điều này đúng, nhưng với vài hiệu chỉnh trong chipset, thì 1950X ít nhất là sẽ đánh bại 1800X trong hầu hết mọi hoàn cảnh.

Và điều cuối chung ta muốn nói trước khi vào benchmarks. Tất cả các CPU của AMD Ryzen được chạy với DDR4-3200 memory, mặc dù Threadripper lại được chạy với bộ CL14 chất lượng cao hơn. Các CPUs còn lại được chạy bằng hai thanh DDR4-3200 CL16, trong khi X299 của Intel sử dụng DDR4-2666 CL15 memory (đây là những gì Intel đưa kèm, và chúng ta chưa có cơ hội để chạy thử với RAM nhanh hơn). Tất cả các máy đều có SSD, với games chạy trên ổ cứng 2TB SATA SSD trong khi hệ điều hành được khởi đồng từ M.2 NVMe SSD. Thông tin toàn bộ hệ thống có thể được thấy dưới đây.

AMD TR4 Testbed

Asus X399 Zenith Extreme

32GB G.Skill TridentZ DDR4-3200 CL14

Samsung 960 Pro 512GB

Open Bench Table

Thermaltake Grand 1200W

Intel X299 Testbed

Asus Prime X299-A

16GB Crucial Ballistix DDR4-2666 CL16

Samsung 960 Pro 512GB

Open Bench Table

Seasonic Prime 1000W

AMD AM4 Testbed

Gigabyte Aorus X370 Gaming 5

16GB GeIL Evo X DDR4-3200 CL16

Samsung 960 Evo 500GB

Enermax Ostrog Lite

Enermax Platimax 750W

Intel LGA1151 Testbed

MSI Z270 Gaming M7

16GB GeIL Evo X DDR4-3200 CL16

Samsung 960 Evo 500GB

Corsair Carbide Air 740

Corsair HX750i 750W

Phần cứng chung

GeForce GTX 1080 Ti FE

Samsung 850 Pro 2TB

Hiệu năng Ryzen Threadripper CPU

Vậy benchmarks dành cho chơi game đâu? Như chúng ta đã nói, Threadripper không phải là một CPU chuyên dành cho chơi game, và để khởi đầu, chúng ta sẽ bắt đầu bằng CPU Benchmarks. Threadripper có 32 và 24 luồn, trên 2 cái model mà chúng ta chạy, và nếu bạn đang nhắm tới dòng này, hãy chắc rằng bạn sẽ không dùng nó chỉ để chơi Overwatch. Dưới đây là hình ảnh của hiệu năng trên một luồng (Cinebech), cùng với nhiều chương trình sử dụng nhiều luồng khác cùng với việc tăng số lượng nhân.

Với việc dẫn đầu trong bảng so sánh, tất nhiên là Threadripper có rất nhiều tiềm năng, và đã từ rất lâu mới thấy được CPU của AMD nằm ở vị trí đầu trong bảng xếp hạng. Về tổng thể, 1950X nhanh hơn 13% so với i9-7900X, và nhiều đợt kiểm tra cho thấy sức mạnh gốc của Threadripper, đặc biệt VeraCrypt và Cinebech cho thấy rõ sự khác biệt. Nếu bạn chạy ứng dụng có thể sử dụng cả 32 luồng của 1950X, hãy sẵn sàng tận hưởng sức mạnh của 1950X. 1920X cũng mạnh mẽ, thường đánh bại i9-7900X, tuy nhiên nó để thua ở các phần kiểm tra khác.

Chúng ta có thể nói là nhiều benchmarks hiện đã lỗi thời, ví như x264 đã có nhiều năm tuổi, và với những cổ máy mới hơn, bài kiểm tra này không nên dùng nữa. Có lẽ trong nhiều tháng sắp đến, chúng ta nên sử dụng Handbrake AVC và HEVC encodes. Tuy vậy, đối với những ứng dụng còn sử dụng AVX (như y-cruncher và x265), Intel vẫn nằm trong cuộc đưa.

Một vài điểm khác không được tính vào trong các hình benchmark cần được lưu ý. Thứ nhất, mặc dù AMD có 180W TDP, khi so với 140W TDP trên Intel, điện sử dụng trong hầu hết các trường hợp rất giống nhau – chúng ta đo được điện năng của CPU i9-7900X 280W bằng Cinebench, so với 266W trên 1950X và 263W trên 1920X. Trong lúc để máy không chạy gì, điện được sử dụng ít hơn trên Intel, 68W của X299 so với 106W của Threadripper. Nhưng tiết kiệm điện khi ‘để không’ không phải là mục đích của cổ máy HEDT.

Một vấn đề khác mà chúng ta muốn đề cập đến là khi chạy thử lại i9-7900X, và thêm i7-7820X, sử dụng motherboard của Asus, vì board của Gigabyte mà chúng ta thử trước đó lại tự auto-overclock. Asus board thì lại chạy ở clock mặc định, nên đây là hiệu năng thấp nhất bạn nên mong đợi từ một cổ máy X299.

Ryzen Threadripper trong hiệu năng chơi game

Sau khi làm bài kiểm tra tập trung về CPU, nếu như bạn đã đọc ở trên về Ryzen, hẳn bạn sẽ đoán được rằng Threadripper không thật sự thay đổi gì nhiều. Ngoài việc một số game chạy ổn định hơn trên Ryzen, về tổng thể thì Intel vẫn chiến thắng khi dùng chơi game. Tất nhiên đây là cấu hình 1080p ultra quality, sử dụng GTX 1080 Ti. Một GPU (card màn hình) yếu sẽ cho kết quả ít khác biệt hơn, và khi chạy 1440p hay 4k sẽ rút gọn khoảng cách này lại. Nhưng nếu bạn muốn tối ưu hóa khi chơi game, AMD vẫn còn rất nhiều việc phải làm mới bắt kịp Intel.

Tin tốt là Threadripper thật sự không chậm hơn bao nhiêu so với Ryzen 7 1800X về tổng thể hiệu năng chơi game. Và nếu bạn bật Game Mode (tại sao lại làm vậy!?), thì 1950X thật sự vượt mặt 1800X. Nhưng khi chỉ so về khung hình, Intel nhanh hơn 10%. Không phải nói về chỉ số fps (khung hình mỗi giây) trung bình, 97% phần trăm fps thấp nhất vẫn ưu ái Intel hơn, với cách biệt rộng hơn trong rất nhiều trường hợp.

Và chỉ có duy nhất một game mà Threadripper dẫn đầu hiện tại, và không ngạc nhiên khi game đó có Logo AMD Gaming Evolved. Civilization VI đã có rất nhiều bản cập nhật kể từ lúc ra mắt, và những bản cập nhật gần đây tập trung vào hiệu năng của Ryzen. Trong khi hầu hết cái CPU Intel i7/i9 đạt khoảng 72-75 fps, 1950X đạt tận 82 fps. Tiếc là, bản cập nhật mới chỉ cải thiện trên i9-7900X, i7-7820X  và Threadripper – và những chip Ryzen khác chắc cũng sẽ cải thiện khá nhiều trên Civ6 khi bản cập nhật sau được ra mắt.

Tại một bảng so sáng khác, Far Cry Primal tiếp tục ưu ái các CPU của Intel hơn, với cách biệt lớn. Rất thú vị là FCP là một trong số ít các game có số luồng giới hạn đến 24, nên chúng ta không thể chạy 1950X ở chế độ nguyên bản – phải tắt SMT để có thể chay FCP! Total War: Warhammer cũng ưu ái Intel một tí, và đó cũng là dẫn chứng tốt nhất khi sử dụng Game Mode.

Nói về đáng đồng tiền nhất,  Core i5-7600k vẫn tiếp tục gây ấn tượng về hiệu năng game tổng thể, đó là nếu như bạn không làm việc gì khác trong lúc chơi game. Streamer ít nhất là muốn Core i7, hoặc một trong những Chip Ryzen 5 6-nhân. Và thật khó mà có thể quay trở lại sử dụng chip chỉ có tối đa 4-nhân với công nghệ hiện giờ. Bạn có thể làm nhiều thứ với các bộ máy 6-nhân (như chạy nhiều ứng dụng mà không cần phải đắn đo), trong khi Core i5 chạy tốt nhất khi bạn không chạy các đa nhiệm quá nhiều.

Overclock Ryzen Threadripper

Về cơ bản, trong bài kiểm tra nay, overlock Threadripper cũng tương tự với những dòng Ryzen chip khác. 1950X có thể đạt được 4.0GHz nếu chúng ta có tản nhiệt tốt hơn, nhưng 3.9GHZ và 1.375V là giới hạn ổn định (stability) mà chúng ta có thể đạt được, và khi các ứng dụng tận dụng CPU nhiều, điện sử dụng đến hơn 400W. Nhiệt độ tại 3.9Ghz cũng vượt hơn 90 độ C, việc mà chúng ta hoàn toàn không muốn nó chạy thường xuyên. Khi giảm xuống 3.8GHz, chúng ta có thể hoàn thiện các bài kiểm tra với chỉ 1.25V, và không có bị ‘crash’ giữa chừng.

Nhìn tổng thể, chạy 3.9GHz trên tất cả 16 nhân cải thiện hiệu năng trong việc sử dụng tối ưu CPU khoảng 6%, với lượng điện dùng tăng 50%. Ở mặt khác, hiệu năng khi chơi game không thay đổi nhiều – chỉ tăng có 2%, và khả năng là lỗi kĩ thuật. Nhưng ở một hướng khác, việc bật Game Mode lại cải thiện rất nhiều (cho chơi game) hơn là overclock.

1920X thì lại có kết quả tốt hơn một tí, có lẽ là do nó chỉ cần phải làm mát 12-nhân thôi. Chúng ta có thể đạt 4.0GHz tại 1.35V và hoàn thành tất cả các benchmarks. Hiệu năng tăng 2% trong tất cả các game, nhưng khi thiên về sử dụng CPU, nó cải thiện đến 8%. Điện năng cũng thấp hơn hẳn, chỉ 310W khi kiểm tra bằng Cinebench. Bạn chắc chắn sẽ muốn dùng tản nhiệt nước là ít nhất nếu thật sự muốn overclock Threadripper.

Còn đối với các dòng Ryzen chip khác, việc overclock 1950X hoàn toàn lép vế. Có lẽ là do 1950X của chúng ta không được tốt so với các 1950X, và cũng có thể là đang mùa hè, khi mà nhiệt độ cũng cao hơn hẳn. Nhưng với chỉ cải thiện hiệu suất một tí, chúng ta tốt nhất là nên chạy Threadripper ở tốc độ nguyên bản (stock clock). AMD đã làm tốt việc tận dụng tất cả công suất của chip khi chạy ở stock clock, và CPU nhìn chung có thể đạt tốc độ đến 4.0GHz, trừ khi bạn sử dụng nitơ lỏng (liquid Nitrogen) để tản nhiệt thì mới đẩy qua 4.0GHz được.

Ryzen Threadripper có phải vị vua mới? Ở một vài lĩnh vực thì chắc chắn là vậy. Việc chạy các ứng dụng đa nhiệm như video encoding thì Threadripper hơn hẳn và dễ dáng đánh bại CPU nhanh nhất hiện tại của Intel là i9-7900X. Nhưng tất nhiên, Intel đã đáp trả bằng các dòng I9-7920X, i9-7940X, i9-7960X và i9-7980X – và chúng đều đắt hơn Threadripper, trong khi chỉ có 7960X và 7980XE thật sự có từ 16-nhân trở lên. Nhưng nếu chơi game là mục đích chính, thì các CPU của Intel vẫn nhanh hơn hẳn trong đại đa số trường hợp. Nhưng bạn đừng nên nhìn vào (hay mua) X299 hay X399 nếu như chỉ dự định chơi game, vì các CPU được thiết kế để làm nhiều việc hơn.

Việc AMD sẵn sành cạnh tranh với Intel, đánh vào thị trường HEDT (High-end-Desktop phân khúc cao cấp) sẽ giúp túi tiền nhẹ hơn. Người mua Từ lâu đã luôn phải dính với một lưạ chọn duy nhất để mua dòng CPU cao cấp. Hiện tại, mặc dù Intel vẫn có nhiều lĩnh vực mà họ có thể đánh bại Threadripper, nhưng đối với những ai hướng về CPU hiệu năng cao – phát triển phần mềm, chuyên viên thiết kế, đồ họa, và còn nữa- thì AMD rất đáng để xem ét. Khi mà sự cạnh tranh giữa 2 ông lớn chỉ có lợi hơn cho người tiêu dùng, chúng ta có CPU nhanh hơn ở chi phí thấp hơn, và mong rằng sẽ có cải thiện vược bậc về hiệu năng ở thế hệ cấu trúc tiếp theo.

Xin nhấn mạnh một lần nữa, Threadripper không phải dùng để chơi game. Nó hoàn toàn quá phí nếu bạn định mua chúng vì mục đích đó. Về mặt khác, các nhà phát triển game có thể được lợi từ những con chip này. Hãy thử nghĩ xem. Ryzen 5 1500X là một CPU khá tốt, giá khoảng $190. Threadripper 1950X gói gọn 4 1500X vào thành một, với clockspeed cao hơn. Nếu bạn không thể nghĩ được mình sẽ làm gì với bốn cái máy tính, tốt nhất là nên sử dụng AM4 và LGA1151. Nhưng nếu bạn tự hỏi cảm giác có một máy chủ làm máy tính để bàn, thì câu trả lời là Threadripper – và tất nhiên là không có những cái quạt ồn như các máy chủ ở bên ngoài.

Nguồn: pcgamer.com

Subscribe
Thông báo của
guest
0 Bình luận
Phản hồi trong bài
Xem tất cả bình luận

Tin hot trong tuần

Tin xem nhiều nhất

0
Hãy chia sẻ cảm nghĩ của bạn bằng cách bình luậnx
()
x